CHƯỜM NÓNG, CHƯỜM LẠNH.
1.Đại Cương
Chườm nóng, chườm lạnh là các kỹ thuật đơn giản thường được áp dụng trong chăm sóc điều dưỡng. Điều dưỡng phải hiểu rõ tác dụng, hiệu quả của nhiệt năng trên cơ thể bệnh nhân. Vì vậy trong lúc thực hành chườm cần theo dõi, quan sát để tránh những tai biến xảy ra như lạnh quá, nóng quá có thể gây bỏng cho bệnh nhân.
1.1. Tác dụng của chườm nóng
- Gây sung huyết cục bộ, làm tăng tuần hoàn tại chỗ giúp cho quá trình liền vết thương nhanh.
- Tác dụng làm giãn cơ, dây chằng; giảm kích thích thần kinh dẫn đến giảm đau.
- Tác dụng làm cho thân nhiệt tăng.
1.2. Tác dụng chườm lạnh
- Tác dụng làm giảm sung huyết cục bộ.
- Giảm đau do chấn thương cơ, dây chằng.
- Giảm thân nhiệt.
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHƯỜM NÓNG
Có 2 phương pháp chườm nóng:
2.1. Chườm nóng khô
Độ thân nhiệt không sâu, chủ yếu để bệnh nhân cảm thấy dễ chịu có tác dụng giảm đau và tăng tuần hoàn máu ngoại vi.
2.2. Chườm nóng ướt
Độ thân nhiệt sâu hơn làm cho bắp thịt đang co cứng giãn ra, tăng tuần hoàn, tăng hấp thu các chất dinh dưỡng, muối khoáng, thuốc.
2.3. Nhiệt độ khi chườm nóng
- Chườm nóng khô: nhiệt độ trung bình 41 - 430C, nhiệt độ cao 50 - 600C.
- Chườm nóng ướt: nhiệt độ trung bình 400C, nhiệt độ cao 500C.
2.4. Thời gian chườm nóng
Thời gian chườm trung bình mỗi lần 20 - 30 phút. Nếu cần chườm nhiều lần thì phải sau 2 - 3 giờ mới được chườm lại.
Chườm nóng liên tục làm cho da mềm, lỗ chân lông giãn ra, vi khuẩn dễ xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm khuẩn da, cơ...
2.5. Kỹ thuật chườm nóng
2.5.1. Chườm nóng khô
Chườm nóng khô có nhiều cách như dùng lò sưởi, chai nước nóng, gạch nướng, nước nóng đổ vào túi chườm.
a. Chỉ định
- Cơn đau dạ dày, gan, thận hoặc khớp.
- Viêm thanh quản, viêm khí quản.
- Trẻ sơ sinh thiếu tháng, người già khi trời rét.
b. Chống chỉ định
- Viêm ruột thừa.
- Viêm phúc mạc.
- Các bệnh nhiễm khuẩn nặng gây mù.
- Các trường hợp xuất huyết.
- Đau bụng không rõ nguyên nhân.
- Chấn thương 24 giờ đầu vì dễ gây chảy máu lại do giãn mạch.
c. Thực hành kỹ thuật
- Chườm nóng khô bằng túi chườm
+ Chuẩn bị bệnh nhân:
·Thông báo và giải thích cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân biết về kỹ thuật sắp làm.
·Hướng dẫn bệnh nhân những điều cần biết, cần làm trước khi thực hành kỹ thuật.
+ Chuẩn bị điều dưỡng: điều dưỡng đội mũ, mặc áo, mang khẩu trang và rửa tay thường quy.
+ Chuẩn bị dụng cụ:
·Túi chườm nóng: kiểm tra túi bị thủng bằng cách cho không khí vào túi, vặn chặt nút rồi đặt lên mặt phẳng lấy tay đè lên, nếu túi từ từ xẹp là thủng.
·Nước nóng đựng trong bình, phích.
·Nhiệt kế đo nước chườm, nhiệt kế đo thân nhiệt của bệnh nhân.
·Bao bọc ngoài túi chườm hoặc khăn bông.
·Băng cuộn, kim băng, dầu nhờn.
- Tiến hành chườm:
+ Kiểm tra nước chườm bằng nhiệt kế đo nước.
·Đổ nước vào túi chườm 1/2 - 2/3 dung tích của túi chườm rồi đặt túi trên mặt phẳng, một tay cầm miệng túi, tay còn lại ép túi chườm để nước dâng lên đến cổ túi sau đó vặn chặt nắp túi lại.
· Dốc ngược túi kiểm tra lại một lần nữa rồi lau khô phía ngoài túi, cho vào bao hoặc bọc trong khăn bông.
+ Đặt bệnh nhân ở tư thế thuận tiện.
+ Đặt nhẹ nhàng túi chườm lên vùng chườm, khi chườm đặt miệng túi lên phía cao hơn để tránh nước rò rỉ gây bỏng bệnh nhân.
+ Cố định túi chườm vào vùng chườm, nếu bệnh nhân kêu đau, cảm giác nặng phải treo túi lên giá sát mặt da.
+ Trong khi chườm phải theo dõi toàn trạng bệnh nhân và vùng da chườm đề phòng tai biến.
+ Chườm xong bỏ túi chườm ra, quan sát vùng chườm. Nếu thấy da đỏ, bệnh nhân kêu đau rát thì dùng parafin xoa lên vùng da chườm.
- Thu dọn dụng cụ, ghi nhận xét vào hồ sơ:
+ Dụng cụ đã dùng đem đi cọ rửa và tiệt khuẩn. Các dụng cụ khác sắp xếp vào vị trí quy định.
+ Ghi vào hồ sơ bệnh án:
· Ngày giờ chườm: nóng, khô.
·Nơi chườm, nhiệt độ nước, thời gian chườm.
·Kết quả, tình trạng bệnh nhân trong và sau khi chườm.
· Tên người thực hành kỹ thuật.
2.3.2. Chườm nóng ướt
Chườm nóng ướt bằng nhiều cách như: ngâm vùng cần chườm vào nước ấm, đắp parafin nóng hoặc các loại rượu quế, hồi. Khăn gạc tẩm nước nóng trong những trường hợp: vết thương hở, nhiễm khuẩn nhẹ, u nhọt.
- Chuẩn bị bệnh nhân:
+ Thông báo và giải thích cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân biết về kỹ thuật sắp làm.
+ Hướng dẫn bệnh nhân những điều cần biết, cần làm trước khi thực hành kỹ thuật.
- Bình, phích đựng nước nóng, có thể dùng dung dịch mặn đẳng trương, cồn boric 2%, rượu quế, rượu hồi, parafin theo chỉ định.
- Chuẩn bị dụng cụ:
+ Nhiệt kế đo nước.
+ Gạc, khăn bông.
+ Kẹp phẫu tích hoặc kẹp Kocher: 2 cái.
+ Tấm nilon hoặc vải dày.
+ Bát để đựng các dung dịch chườm, khay quả đậu.
+ Dầu nhờn parafin.
- Thực hành kỹ thuật:
+ Pha nước, dùng nhiệt kế để đo nhiệt độ nước, nếu là các dung dịch khác phải đun nóng đến nhiệt độ cần thiết.
+ Để bệnh nhân nằm ở tư thế thoải mái, thuận tiện.
+ Nhúng gạc hoặc khăn vào nước chườm, dùng kẹp vắt gạc cho hết nước rồi mở rộng gạc đắp nhẹ nhàng lên vùng chườm, đối với vết thương hở phải hết sức vô khuẩn.
+ Dùng khăn thì không vắt bằng kẹp, có thể dùng tay đắp gạc phủ nilon hoặc vải dày lên gạc chườm để giữ cho độ nóng được lâu.
+ Khi hết nóng thay gạc hoặc khăn khác, trung bình 10 phút/lần.
+ Chườm xong bỏ gạc, khăn ra lau khô vùng chườm, nếu da vùng chườm đỏ, hoặc bệnh nhân kêu đau rát thì xoa dầu nhờn parafin lên vùng chườm. Vết thương hở không bôi dầu nhờn parafin.
+ Chườm ở mắt thì dùng gạc 5 x 5cm, khi chườm cho bệnh nhân nằm nghiêng sang bên mắt đau.
Trong chườm nóng ướt, phương pháp đắp parafin ấm là tốt nhất vì giữ được nhiệt lâu hơn.
- Thu dọn dụng cụ, ghi kết quả vào hồ sơ bệnh án:
+ Dụng cụ đã dùng đem đi cọ rửa và tiệt khuẩn. Các dụng cụ khác sắp xếp vào vị trí quy định.
+ Ghi vào hồ sơ bệnh án:
· Ngày giờ chườm: nóng, ướt.
· Nơi chườm, nhiệt độ nước, thời gian chườm.
· Kết quả, tình trạng bệnh nhân trong và sau khi chườm.
· Tên người thực hành kỹ thuật.
3. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHƯỜM LẠNH
Có nhiều phương pháp như: tắm, lau người bằng nước lạnh, chườm lạnh ướt và bằng nước đá.
- Chỉ định:
+ Thân nhiệt tăng cao.
+ Xuất huyết đường tiêu hóa.
+ Chấn thương sọ não.
+ Sau phẫu thuật cắt tuyến giáp cho bệnh cường tuyến giáp.
+ Nhiễm khuẩn, áp xe...
- Chống chỉ định:
+ Thân nhiệt thấp, người già yếu.
+ Tuần hoàn cục bộ giảm hoặc bệnh nhân táo bón.
+ Xuất huyết đường hô hấp.
3.1. Chườm lạnh bằng đá (chườm lạnh khô)
3.3.1. Chuẩn bị bệnh nhân
- Thông báo và giải thích cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân biết về kỹ thuật sắp làm.
- Hướng dẫn bệnh nhân những điều cần biết, cần làm trước khi thực hành kỹ thuật.
3.1.2. Chuẩn bị điều dưỡng
Điều dưỡng mặc áo, đội mũ, mang khẩu trang, rửa tay thường quy.
3.1.3. Chuẩn bị dụng cụ
- Túi chườm lạnh, kiểm tra xem có thủng không.
- Phích đựng đá, chậu nước nóng để ngâm đá cho đỡ sắc cạnh trước khi bỏ vào túi để tránh túi thủng.
- Vồ để đập đá, túi hoặc khăn để bọc túi đựng đá.
- Băng vải, kim băng, bột tale.
3.1.4. Thực hành kỹ thuật
- Đập đá nhỏ vừa phải, cho vào túi 1/2 - 2/3 dung tích, đuổi hết không khí, vặn chặt nút, rồi dốc ngược xem có rỉ nước ra không.
- Lau khô mặt ngoài túi chườm, cho vào bao hoặc bọc ngoài bằng khăn bông.
- Để bệnh nhân nằm ở tư thế thuận lợi.
- Đặt nhẹ nhàng túi chườm vào vùng chườm, tránh gây lạnh đột ngột.
- Vị trí chườm: tuỳ theo chỉ định; thỉnh thoảng kiểm tra vùng chườm, toàn trạng bệnh nhân, đá trong túi đã tan hết chưa. Nếu bệnh nhân rét run, thân nhiệt giảm, vùng chườm tê cứng phải ngừng chườm ngay.
- Chườm đá lạnh có thể để một thời gian ngắn, nếu phải chườm liên tục thì sau 2 - 3 giờ thay đá.
- Khi chườm xong bỏ túi ra, lau khô vùng chườm xoa bột tale lên vùng chườm.
- Giúp bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.
3.1.5. Thu dọn dụng cụ, ghi nhận xét vào hồ sơ
- Dụng cụ đã dùng đem đi cọ rửa và tiệt khuẩn. Các dụng cụ khác sắp xếp vào vị trí quy định.
- Ghi vào hồ sơ bệnh án:
+ Ngày giờ chườm; chườm lạnh bằng đá (chườm lạnh khô).
+ Nơi chườm, nhiệt độ nước, thời gian chườm.
+ Kết quả, tình trạng bệnh nhân trong và sau khi chườm.
+ Tên người thực hành kỹ thuật.
- Trong lâm sàng, khi cần hạ thân nhiệt nhanh phải dùng nhiều túi chườm, đặt túi chườm vào vùng da mỏng, nhiều mạch máu lớn đi qua như: nách, bẹn, trán, hai bên cổ...
- Không được đặt túi chườm lạnh lên vùng ngực bệnh nhân, tránh lạnh quá gây viêm phổi.
- Nếu phải chườm kéo dài thì thỉnh thoảng phải ngừng chườm, bệnh nhân kêu tê lạnh, thân nhiệt giảm xuống dưới mức bình thường phải ngừng chườm ngay.
3.2. Chườm lạnh bằng khăn, gạc ẩm (chườm lạnh ướt)
Trong một số trường hợp bệnh nhân sốt cao cần phải hạ nhiệt ngay mà không có đá lạnh có thể dùng nước lạnh hay nước thường nhúng khăn gạc vào đó, vắt sạch nước rồi chườm cho bệnh nhân.
3.2.1. Chuẩn bị bệnh nhân
- Thông báo và giải thích cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân biết về kỹ thuật sắp làm.
- Hướng dẫn bệnh nhân những điều cần biết, cần làm trước khi làm thủ thuật.
3.2.2. Chuẩn bị điều dưỡng
Điều dưỡng mặc áo, đội mu, mang khẩu trang, rửa tay thường quy.
3.2.3. Chuẩn bị dụng cụ
- Gạc, khăn để thấm nước.
- Chậu đựng nước lạnh.
- Nilon, khăn bông.
3.2.4. Thực hành kỹ thuật
- Tư thế bệnh nhân: để bệnh nhân nằm ở tư thế thuận tiện, trải nilon dưới vùng chườm để tránh ướt giường.
- Gạc, khăn nhúng nước lạnh vắt hết nước, đắp lên vùng chườm. Khi gạc, khăn ấm lên thì thay gạc, khăn khác.
- Tiếp tục chườm từ 20 - 30 phút đến khi thân nhiệt trở về bình thường.
- Chườm xong bỏ khăn gạc ra, dùng khăn bông lau khô, đặt bệnh nhân nằm tư thế thoải mái.
3.2.5. Thu dọn dụng cụ, ghi nhận xét vào hồ sơ bệnh án
- Dụng cụ đã dùng đem đi cọ rửa và tiệt khuẩn. Các dụng cụ khác sắp xếp vào vị trí quy định.
- Ghi vào hồ sơ bệnh án:
+ Ngày giờ chườm lạnh ướt.
+ Nơi chườm, nhiệt độ nước, thời gian chườm.
+ Kết quả, tình trạng bệnh nhân trong và sau khi chườm.
+ Tên người thực hành kỹ thuật.
4. TAI BIẾN, BIẾN CHỨNG
- Bỏng da vùng chườm nóng: do không thực hiện đúng quy trình, nước quá nóng, thời gian chườm nóng dài.
- Giảm thân nhiệt: chườm lạnh cho bệnh nhân hôn mê, rối loạn ý thức có thể gây giảm thân nhiệt dưới mức bình thường.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.30/2/2020.
|
No comments:
Post a Comment